Showing posts with label nghe thuat song. Show all posts
Showing posts with label nghe thuat song. Show all posts

Monday, March 12, 2012

Làm ăn bất chính sinh ra những kẻ ngông đốt tiền tỉ

Làm ăn bất chính sinh ra những kẻ ngông đốt tiền tỉ

(Đời sống) - "Chúng ta chưa có những đại gia thực sự, và nếu có những người tự nhận mình là đại gia thì họ không phải là doanh nhân. Bởi kinh doanh chân chính thì không thể có tiền nhiều như thế được trong điều kiện của xã hội chúng ta".. - Ông Nguyễn Trần Bạt, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư InvestConsult Group khẳng định với Phunutoday như vậy xung quanh lùm xùm việc tổ chức đám cưới siêu khủng của một số nữ đại gia.

Chỉ là những hư hỏng trong cuộc sống!
PV: - Hiện dư luận đang xôn xao về sự kiện các nữ đại gia ở vùng đất Tây Đô, Hà Tĩnh chơi ngông bằng việc mượn máy bay bầu Đức để rước dâu, tặng quà cho con bằng nhà trăm tỷ, tổ chức siêu đám cưới với chi phí đến 50 tỷ đồng. Là một doanh nhân thành đạt, ông có nhận xét gì về hiện tượng này?
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Tôi không muốn phát biểu với tư cách là một doanh nhân thành đạt, tôi cũng không phải là một doanh nhân thành đạt theo bất kỳ một định nghĩa nào.

Bởi suy cho cùng thuật ngữ doanh nhân thành đạt là thuật ngữ của báo chí, không phải thuật ngữ của giới kinh doanh.
Ông Nguyễn Trần Bạt: Chúng ta chưa có đại gia thực sự
"Doanh nhân hơn ai hết biết rất rõ sự vất vả của việc kiếm tiền, biết rõ giá trị của đồng tiền, và không có một người kinh doanh chân chính nào có được tiền một cách dễ dàng và phung phí như thế"...
 
"Con người có nghĩa vụ trước hết với mình là giữ cho mình nguyên vẹn là một con người. Đấy là thẩm mỹ chính trị của tôi về cái gọi là kinh doanh hoặc bất kỳ cái gì"...
 
 - Ông Nguyễn Trần Bạt -
Báo chí đã vẽ ra một đội ngũ doanh nhân và một số tiêu chuẩn để hình thành ra họ, cho nên mới có một sự chú ý đến mức không tỉnh táo đến các hiện tượng giống như vừa đề cập tới.
Doanh nhân là doanh nhân, doanh nhân là một người lính ngoài mặt trận, có thể thành anh hùng và có thể thành liệt sĩ.
Khi chúng ta để ý đến họ với tư cách là một người có thể thành anh hùng thì đôi khi chúng ta nhìn thấy trước hình ảnh anh hùng của họ.
Nhưng nếu chúng ta quan tâm đến họ với tư cách là một kẻ rất có thể trở thành liệt sĩ thì chúng ta sẽ thấy bao nhiêu rủi ro xung quanh họ.
Cho nên hiện tượng chơi ngông hoặc làm ầm ĩ của một vài người nó không phải và không thuộc về giới doanh nhân. Bởi kinh doanh trong điều kiện của nền kinh tế thế giới vào giai đoạn này để sống sót được đã khó. Báo chí đã đưa ra rất nhiều con số thống kê về mấy chục ngàn doanh nghiệp buộc phải đóng cửa. Ngay từ đầu năm đến giờ Hà Nội cũng có mấy trăm công ty phải đóng cửa.
Không nên gán cho giới doanh nhân những phẩm hạnh hoặc những hành vi thỉnh thoảng mới có mà xã hội cho là xấu. Kinh doanh là phương tiện để những người có những biểu hiện xấu thể hiện chứ không phải là phẩm chất. Doanh nhân hơn ai hết biết rất rõ sự vất vả của việc kiếm tiền, biết rõ giá trị của đồng tiền, và không có một người kinh doanh chân chính nào có được tiền một cách dễ dàng và phung phí như thế.
Tôi chưa bao giờ nhận tôi là một nhà kinh doanh. Tôi kinh doanh vì cuộc sống của cá nhân tôi, của vợ tôi, con tôi, và khi có tiền rồi thì tôi kinh doanh tiếp tục vì còn nhiều đồng nghiệp của tôi chưa có nhà cửa, chưa có xe pháo. Kinh doanh là phương tiện để cấu tạo ra các điều kiện để sống chứ không phải là cuộc sống. Tôi không xem kinh doanh là cuộc sống.
Và tôi là một con người, dù làm bất cứ điều gì, tiến hành bất cứ loại hành vi gì và trở thành một thứ gì trong những chặng khác nhau của cuộc đời thì tôi đều vì con người cả. Không phải vì con người với tư cách là phấn đấu vì một đối tượng bên ngoài tôi, mà là giữ gìn phẩm hạnh của tôi như một con người. Con người có nghĩa vụ trước hết với mình là giữ cho mình nguyên vẹn là một con người. Đấy là thẩm mỹ chính trị của tôi về cái gọi là kinh doanh hoặc bất kỳ cái gì.
PV: - Vậy có thể gọi đó là kiểu đốt tiền chơi ngông của một số đại gia?
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Chúng ta chưa có những đại gia thực sự, và nếu có những người tự nhận mình là đại gia thì họ không phải là doanh nhân. Bởi kinh doanh chân chính thì không thể có tiền nhiều như thế được trong điều kiện của xã hội chúng ta. Tôi rất buồn về việc báo chí, dư luận ghép vào trong đội ngũ những người kinh doanh thông thường những trường hợp mà các bạn gọi là đại gia.
Rất khó để trở thành đại gia. Đại gia là những thiên tài, mà trong xã hội của chúng ta thì khó có thể tìm thấy thiên tài nào như vậy. Các "đại gia" mà dư luận và báo chí vẫn gọi hiện nay là kết quả của một phương pháp khác, một loại hình khác, không thể gọi là kinh doanh được.
Tôi nghĩ tất cả những chuyện ầm ĩ mà chúng ta vừa đề cập là những chuyện đau lòng của cuộc sống, đấy là những ví dụ hư hỏng mà cuộc sống của chúng ta có.
Đốt tiền chơi trội: Không phải hành vi của con người!
d
"Miền tây Nam Bộ như trường hợp thứ nhất và miền tây Hà Tĩnh như trường hợp thứ hai, nơi ấy đẻ ra những bằng chứng, những con người vĩ đại lắm, đừng làm nhục miền quê ấy bằng cách dùng nó để giải thích cho những hành vi như thế"...
PV: - Họ nói rằng việc tổ chức đám cưới khủng như vậy là vì thương miền quê nghèo quanh năm không có được một sự hưởng thụ nào…
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Miền quê nghèo ở Hà Tĩnh ấy đã đẻ ra Nguyễn Du vĩ đại, đẻ ra những anh hùng như Phan Đình Phùng, gần đây là Hà Huy Tập, Trần Phú. Miền quê ấy không tệ hại đến mức đẻ ra những trường hợp như vậy.
Đừng lấy bất kỳ cái gì để giải thích cho những hiện tượng như vậy. Miền tây Nam Bộ như trường hợp thứ nhất và miền tây Hà Tĩnh như trường hợp thứ hai, nơi ấy đẻ ra những bằng chứng, những con người vĩ đại lắm, đừng làm nhục miền quê ấy bằng cách dùng nó để giải thích cho những hành vi như thế.
PV: - Vậy với ông như thế nào được cho là một đại gia thực sự?
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Đại gia thực sự là những người kinh doanh thành công, những người từng bước cùng với thời gian, cùng với xã hội xây dựng nên những nền công nghiệp, những đế chế kinh doanh khổng lồ, đem lại một lợi ích rất khó đo đếm cho xã hội.
Một đại gia thực sự là người không hề để ý đến mình, họ không có mục tiêu để trở thành đại gia. Còn một người thiết kế kích thước đại gia của mình trước khi trở thành đại gia thì đấy lại là chuyện khác.
Tức là anh muốn có kích thước. Nếu là một người thông thường, nếu là những thanh niên lành mạnh thì đều có bạn bè, có cộng đồng của mình. Kẻ bay lên trên đầu cộng đồng của mình, kẻ nhảy múa lên trên thân phận của bạn hữu của mình liệu có lành mạnh không? Chắc chắn là không.
Không ai tự nhận mình là người có đạo đức nếu sống trong những điều kiện vượt quá sức chịu đựng của xã hội xung quanh mình. Một món quà mà mình tiêu, một bữa ăn mà mình trả tiền nó lớn bằng mức sống hàng tháng của cả một gia đình hoặc thậm chí hàng năm chẳng hạn, những thứ đó được gọi là vô nhân đạo.
Chúng ta không nên mất thì giờ để bình luận về những trường hợp mà nó vượt ra khỏi ranh giới con người, khỏi khuôn khổ con người. Tôi không xem những hành vi chơi trội ghê gớm như vậy là hành vi của con người, đó là hành vi phi con người, thậm chí là hành vi chống lại con người.
Chống lại con người là làm cho con người xấu đi, làm cho con người nhỏ bé đi, trở nên quằn quại trước các chi tiêu của mình, khiếp nhược trước sự giàu có và hoang phí của mình.
Những cái đó làm cho con người bé tí đi, làm cho con người run sợ, không dám tự tin, không dám hành động, đặc biệt là không cố gắng được nữa, bởi cố mấy cũng không thể bằng nó.
Tất cả những ai sống trên con người, sống một cách đe nẹt, sống một cách đè bẹp những trạng thái yên ổn thông thường của con người là kẻ vi phạm nhân quyền. Người ta không bắt kẻ đó vào tù được, nhưng người ta có thể căm ghét kẻ đó. Tất cả những người lành mạnh đều phải cố gắng sống sao cho không tạo ra sự căm ghét như vậy của những người xung quanh mình.
Những bài báo của các bạn đang chiếu cho thiên hạ thấy thêm rằng họ sống đến mức gặt hái được sự căm ghét của toàn xã hội. Tôi rất ghê sợ những chuyện như thế này vì nó rất phi con người.
Tham nhũng, bất chính sinh ra những kẻ ngông nghênh như vậy
s
"Họ thay thế phông văn hóa như một phương tiện để tổ chức mối giao lưu, quan hệ sống giữa con người với nhau bằng những phương tiện có thể đe nẹt, có thể bắt nạt, có thể đè bẹp các giá trị tinh thần của con người"...
PV: - Vậy theo ông, hành động mượn máy bay rước dâu hoặc chi cho con những ngôi nhà hơn trăm tỷ đó có được gọi là hành động chơi trội ghê gớm, phi con người và đó có là thói chơi trội của những kẻ trưởng giả học làm sang hay những người mà dân ta quen gọi là trọc phú?
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Chỉ có công an mới trả lời được câu hỏi như vậy. Câu hỏi bạn đề nghị tôi trả lời liên quan đến sự yên ổn cá nhân của hai trường hợp. Tôi rất không muốn trả lời về hai trường hợp cụ thể này, bởi tôi không thể dành cho những trường hợp này sự chú ý đặc biệt nào.
Vì không có sự chú ý nên trả lời về họ sẽ vô tình đem lại những sự thiệt thòi mà đáng ra không nên có. Tôi không thích chuyện ấy, và tôi cũng không thích báo chí quá chú ý đến những trường hợp như thế.
Chúng ta có rất nhiều tấm gương tốt, chúng ta có những doanh nhân rất vất vả, có những sự nghiệp rất chắc chắn, đã bắt đầu có những sản phẩm có giá trị phục vụ và có giá trị để tạo ra một nền kinh tế Việt Nam tử tế. Chúng ta nên chú ý đến những chuyện ấy. Còn những thứ như kia không đáng để ý.
Đừng để ý đến số tiền vì số tiền không phản ánh sự giàu có. Người ta có thể đi vay để tiêu. Tôi tin chắc là không có một thanh niên nào thấy hạnh phúc khi ở trong một căn nhà mà họ biết rõ nguồn gốc của nó là bất minh đối với tất cả các tiêu chuẩn đạo đức. Còn nếu họ cảm thấy hạnh phúc thì càng không nên để ý nữa.
Tôi khuyên báo chí không nên để ý đến những chuyện này. Chúng ta đừng tiếp tay cho những kẻ ngông nghênh như vậy để biểu dương trước dư luận xã hội về một sự ngông nghênh không nên có. Lên án cũng là một sự biểu dương, bởi người ta cần có tin đồn, cần có tiếng tăm và cần có huyền thoại.
PV: - Đâu là nguyên nhân xuất hiện của những kẻ ngông nghênh như vậy, thưa ông?
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Nó ở nhiều chỗ, nhưng đại thể là tham nhũng và làm ăn bất chính. Hiện trạng xã hội chúng ta đang có không ai có thể làm ra quá nhiều tiền được bằng cách thức tương đối lương thiện.
PV: - Vậy ông nghĩ gì với ý kiến cho rằng: những kẻ không có tiền mới có thể chê bai họ là nhà giàu chơi ngông như thế?
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Trong một buổi giao lưu với sinh viên của trường Đại học Kinh tế, khi trả lời câu hỏi của sinh viên tôi đã nói: Chúng ta phấn đấu sống và làm việc như thế nào để tiền là sản phẩm phụ của cuộc sống của chúng ta. Chúng ta phải làm ăn như thế nào để tiền là một tất yếu phụ chứ không phải là một tất yếu chính.
Tôi nghĩ rằng con người nếu sống có lý tưởng, có phẩm hạnh thì nên cố gắng sống như thế. Người ta cho chất độc vào trong sữa, dùng những hóa chất độc hại để làm tươi thức ăn, để làm nạc hóa đàn lợn, tất cả những chuyện như thế đang diễn ra hàng ngày trên thế giới và nó bị lên án một cách toàn cầu.
Những sản phẩm độc hại ấy từ đâu ra? Từ chỗ anh làm tiền bằng mọi giá. Nếu con người có một đòi hỏi có tiền bằng mọi giá và có nhiều tiền bằng mọi giá, cái gì không mua được bằng tiền thì mua được bằng rất nhiều tiền, tức là mua mọi thứ bằng mọi giá thì xã hội chúng ta có phải xã hội con người nữa không?
Và chúng ta còn hứng thú để sống một cách có lý tưởng, sống một cách có tâm hồn, sống một cách có giá trị tinh thần nữa không? Những kẻ chơi ngông như vậy đang đập chết cảm hứng sống của hàng chục triệu con người.
Những kẻ làm tiền bằng mọi giá đang đầu độc nhân loại và làm mất đi sự thanh thản khi uống khi ăn, bởi vì tiềm ẩn trong tất cả những cái có thể uống, có thể ăn là sự độc hại do động cơ làm tiền bằng mọi giá.
Chúng ta ngây thơ, chúng ta đơn giản, chúng ta không có thì giờ để để ý, để suy nghĩ, chúng ta không ngẫm nghĩ và vô tình chúng ta nuốt vào trong người mình, khoác lên cơ thể mình những thứ độc hại là sản phẩm của những kẻ làm tiền bằng mọi giá.
Chỉ có những kẻ như vậy mới kiếm ra tiền một cách dễ dãi trong điều kiện khó khăn hiện nay của nền kinh tế thế giới cũng như nền kinh tế của đất nước mình. Những kẻ đó đang đầu độc không chỉ cả các điều kiện sống mà cả các điều kiện tinh thần của cuộc sống.
Những cô gái ngây thơ có thể lác mắt về xe pháo, về quần áo, về quà tặng của một kẻ lắm tiền, và điều đó đã bẻ gãy rất nhiều những tình yêu vốn dĩ đáng ra phải lành mạnh. Sự kích động những tâm lý không lành mạnh bẻ gãy một cách toàn diện các điều kiện sống.
Bạn bỗng nhiên thấy cậu bạn trai của mình, một người hiền lành lao động chân chính, bất lực trước việc có tiền để đánh đu với những kẻ đi bằng trực thăng. Nếu bạn là một người tốt thì bạn bỗng nhiên thấy thương hại người bạn trai nghèo khổ hoặc không giàu có của mình. Và như vậy chính là những kẻ chơi trội ấy đã nhét thuốc độc vào tình yêu của bạn.
Và tôi cũng không bàn đến phông văn hóa của họ. Bởi vì phông văn hóa của một con người chính là nhân tính của hành vi của họ, hay là tính nhân văn trong đời sống tinh thần của họ, mà sống như thế thì chắc chắn không có tính nhân văn của đời sống. Thế thì bàn đến phông văn hóa làm gì?
Có lẽ họ cũng không quan tâm đến phông văn hóa của họ. Họ thay thế phông văn hóa như một phương tiện để tổ chức mối giao lưu, quan hệ sống giữa con người với nhau bằng những phương tiện có thể đe nẹt, có thể bắt nạt, có thể đè bẹp các giá trị tinh thần của con người.
PV: - Hiện tượng này phản ánh điều gì trong xã hội, thưa ông?
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Đấy là một thực tế mà Đảng ta đang phải dựng ra cả một nghị quyết vĩ đại để khắc phục hậu quả, đó là Nghị quyết Trung ương IV.
Tôi xem nghị quyết Trung ương IV là một cuộc chiến đấu rất gian khổ của những người lãnh đạo của chúng ta để giúp xã hội thoát ra khỏi tất cả các tình trạng vô tổ chức, vô kỷ luật, suy thoái, hư hỏng như thế này. Đấy là một cuộc chiến đấu đáng ca ngợi, đáng vỗ tay, và rất đáng khen về lòng dũng cảm và động cơ đạo đức đằng sau đó.
Tôi cảm động về chuyện ấy hơn là đánh giá nó. Tôi không xem cuộc chiến đấu này của những người lãnh đạo đất nước chúng ta như một trò chơi để đặt cọc hay kỳ vọng vào đó hay quan sát nó như là một trò chơi, một cuộc đấu để tin tưởng hay không tin tưởng.
Tôi phải xem tôi và xã hội được hưởng lợi gì từ cuộc đấu tranh ấy và tôi thấy rằng đấy là một cuộc chiến đấu rất đáng kính trọng, và với tư cách là một con người thì đáng cảm động.
Các nhà lãnh đạo của chúng ta buộc phải làm cái gì đấy và đây là việc làm kịp thời, lúc xã hội đã bắt đầu căng thẳng và bức xúc về những thói hư tật xấu mà nói cho cùng do sự quản lý yếu kém tạo ra, và lúc mà mầm mống của một số thói quen xấu bắt đầu hình thành, bắt đầu sừng sộ bắt nạt cuộc sống thông thường. Đây là sự ngăn chặn rất đúng lúc và đây là một cuộc chiến đấu dũng cảm.
Tôi cho rằng luôn luôn phải giúp con người, kể cả những người đã trót dại có những hành vi ngông nghênh. Họ cũng có những tội nghiệp riêng của họ.
Về phông văn hóa, đấy cũng là một cái tội nghiệp, bởi vì trong khi thừa cái này thì họ thiếu cái khác. Thừa cái này và thiếu cái kia sẽ tạo ra các hành vi ngông nghênh như vậy, bởi vì các hành vi xuất hiện một cách tổng hòa giữa cái thừa và cái thiếu trong những yếu tố cấu tạo ra giá trị tinh thần của một con người.
Tiêu tiền bừa bãi sẽ phá hoại các tiêu chuẩn sống
PV: - Liệu những kẻ kiếm nhiều tiền bằng mọi giá như vậy có tạo ra cho xã hội chúng ta một nền kinh tế vững chắc không, thưa ông?
Ông Nguyễn Trần Bạt: - Những người nhiều tiền không có tội gì cả, chỉ có những người tiêu tiền một cách bừa bãi và những người kiếm được nhiều tiền bằng những cách không tử tế, không minh bạch thì gây khó khăn cho xã hội chúng ta.
Sự chơi bời, mua sắm một cách bừa bãi tạo ra hiện tượng phá giá, nhưng nghiêm trọng hơn cả là hiện tượng phá hoại các tiêu chuẩn sống.
Giá cả của cuộc sống phù hợp với năng lực để tạo ra sự yên ổn, khi anh làm quá lên thì anh làm nhiễu loạn hệ thống giá trị, và anh làm cho xã hội phân vân về những cái mình đang có và con người buộc phải phá vỡ sự yên tĩnh để đi tìm một giá trị mà chắc chắn 100% là năng lực của họ không thể tìm được.
Tội ác của những thứ chơi ngông ấy kinh khủng lắm, nó không đơn giản là chúng ta cười rồi chế giễu đâu. Nó buộc phải được lên án về mặt đạo đức một cách chuyên nghiệp chứ không phải bằng việc đưa các tin lá cải.
Tức là phải phân tích khoa học về thói xấu ấy, về tác động xấu ấy đối với xã hội. Những người đó có kiếm được bao nhiêu tiền, tiêu bao nhiêu tiền, đốt cháy bao nhiêu tiền đi nữa thì họ cũng không có thêm giá trị đối với bất kỳ người nào có giá trị.
Những người có tiêu chuẩn, những người biết rõ giá trị họ không bị lung lạc bởi những thứ chơi ngông ấy. Những người như vậy chỉ tập hợp xung quanh mình hai thứ: những thứ đố kỵ, tầm thường mà mỗi người có một chút, và sự trầm trồ của những kẻ hư hỏng và sẵn lòng hư hỏng như họ.
- Xin cảm ơn ông!

Monday, September 26, 2011

Cái đẹp cứu rỗi cuộc sống

TP - Nhìn nhận các vụ án mạng nghiêm trọng liên tiếp xảy ra thời gian qua, nhà nghiên cứu, luật sư Nguyễn Trần Bạt cho rằng: Khi chúng ta bàn cái đằng sau tội ác tức là chúng ta đã phạm sai lầm.

Truyền thông phải ẩn ác dương thiện
Gần đây xảy ra nhiều vụ án mạng đối tượng gây án đều trẻ. Theo ông, đằng sau câu chuyện đó là gì?
Bao giờ chúng ta bàn cái đằng sau tội ác thì tôi nghĩ là chúng ta đã phạm phải một sai lầm. Xưa nay chúng ta đã tạo ra sai lầm là luôn luôn đổ vạ cho cuộc sống. Hiện tượng ấy là những hiện tượng đột biến của cuộc sống.
Để khắc phục những hiện tượng như vậy, không phải xoáy vào câu chuyện tội ác mà cần phải khích lệ những mặt tích cực, những mặt tử tế, những mặt lương thiện của con người, làm cho những kẻ giết người xấu hổ. Một kẻ khi giết người mà không còn xấu hổ nữa thì đó là kẻ giết người bẩm sinh, và đấy là căn bệnh. Chúng ta phải đối mặt với những căn bệnh ấy bằng một công cụ khác, không phải bằng công cụ đạo lý nữa.
Thưa ông, thông tin về các vụ án mạng liên tục xuất hiện trên báo chí mang ý nghĩa cảnh tỉnh hay tạo ra cảm giác bất an?
Truyền thông luôn luôn xoáy vào các hiện tượng nổi bật, mà nó nổi bật cũng do chính truyền thông tạo ra. Những hiện tượng như vậy có đầy rẫy ở trong các xã hội, phương Tây, ở Trung Quốc, ở Ấn Độ đều có.
Ở đâu, lúc nào cũng có những kẻ giết người. Những yếu tố ấy là hạt đỗ đen trong toàn bộ cánh đồng đỗ. Tôi không nghĩ rằng cần phải khái quát thành một hiện tượng có tính chất phổ biến trong xã hội. Phải ẩn ác dương thiện.
Ông có nghĩ rằng những hiện tượng tội ác trở nên nổi bật trên bao chí chỉ vì đơn giản là nó hấp dẫn hơn những hiện tượng lành mạnh?
Tôi có một bài đã được xuất bản thành sách đó là “Nhận thức thế giới trong thời đại thông tin”. Tôi cho là truyền thông của chúng ta có lỗi khi quá tập trung sự chú ý xã hội vào một số hiện tượng tiêu cực mà bỏ quên phần lớn còn lại là hiện tượng rất lành mạnh. Không nên câu khách thông qua phản ánh hiện tượng tiêu cực.
Tôi nghĩ chúng ta phải di chuyển sự chú ý của lớp trẻ ra khỏi những hiện tượng tiêu cực như vậy. Xã hội càng phát triển chậm, mặt bằng dân trí càng thấp thì sự chú ý vào những hiện tượng tiêu cực càng lớn.
Báo chí phải tự giải phóng mình ra khỏi những hiện tượng như vậy. Phải nhớ rằng hiện tượng lành mạnh hấp dẫn hơn hiện tượng tiêu cực. Nhưng chúng ta không biết mô tả một cách hấp dẫn hiện tượng lành mạnh. Có lẽ truyền thông buộc phải nghiên cứu một cách thức tiếp cận với mặt lành mạnh của cuộc sống một cách tự nhiên hơn.
Luật sư Nguyễn Trần Bạt
Luật sư Nguyễn Trần Bạt.
 
Đối phó với tội ác bằng sự trong sạch
Trong những vụ án mạng nghiêm trọng kẻ gây án chưa đủ 18 tuổi nên không bị khép hình phạt tử hình. Điều đó làm rất nhiều người căm phẫn. Phải chăng có sự vênh nhau giữa đạo đức và pháp luật, giữa pháp luật và cuộc sống trong câu chuyện này. Dưới góc nhìn của một luật sư ông đánh giá như thế nào?

Vì một hiện tượng tiêu cực mà phải xé bỏ những chỉ giới của luật pháp quốc tế tức là chúng ta xem hiện tượng tiêu cực ấy quan trọng hơn cuộc sống. Tôi nghĩ rằng chúng ta buộc phải tuân thủ các chỉ giới của pháp luật, cho dù pháp luật ấy nó vẫn còn có vấn đề, cho dù nó thất bại trong một số hiện tượng cá biệt. Nếu chúng ta uốn cong luật pháp để giành thắng thế trong bất kỳ hiện tượng có tính chất tư pháp nào thì chúng ta là kẻ thất bại về mặt tư pháp.
Tôn trọng pháp luật, xử đúng người đúng tội, đúng pháp luật thực chất là bảo vệ nhà nước của chúng ta. Bởi vì nhà nước phải dựa trên căn bản một hệ thống pháp luật tương đối ổn định. Khi thấy ở luật pháp có sự bất cập thì chúng ta phải uốn nắn lại nó thông qua con đường lập pháp, con đường tư pháp chứ không phải thông qua điều chỉnh thái độ của chúng ta đối với các điều luật.
Chắc hẳn việc một người dưới 18 tuổi không bị kết án tử hình dù phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đã thể hiện sự tiến bộ và nhân văn của pháp luật?
Bây giờ kể cả với những người thành niên rồi thì cũng đã có khá nhiều nước hủy bỏ án tử hình. Quốc hội chúng ta cũng đã từng thảo luận là có duy trì hay không duy trì án tử hình. Tử hình không phải là một cách thức tốt để khuyến dụ con người.
Nếu con người là một đối tượng dân sự có tài sản, có ràng buộc và được tôn trọng thì ngay sự không tôn trọng nó đã là một sự trừng phạt khổng lồ rồi. Vì thế, việc có ý kiến đòi hỏi phải xé bỏ luật để tử hình cho được một người vị thành niên là điều rất nguy hiểm.
Nói nhiều đến tội ác và trừng phạt chắc không phải cách tốt để hướng giới trẻ tới sự lương thiện. Làm thế nào để giới trẻ có thể tự vệ trước sự tha hoá của đời sống?
Tôi nghĩ cộng tác với lớp trẻ và thổi vào họ một nhận thức gì đấy, một tình cảm, một thái độ… là rất tốt. Khi chúng ta nói chuyện với giới trẻ chúng ta không nói đến tội ác, tội phạm.
Cuộc sống sẽ dạy cho họ đủ các bài, chúng ta không dạy thêm những bài ấy. Và trong những cách để con người tự vệ trước sự tha hóa của cuộc sống thì trong sạch là vũ khí quan trọng nhất, chứ không phải dạy nó kinh nghiệm để đối phó với tội ác. Kinh nghiệm lớn nhất để đối phó với tội ác là giữ cho mình trong sạch.
Một nhà toán học cũng đã hỏi tôi rằng: đọc sách của ông tôi thấy ông khuyên những người trẻ nên giữ gìn sự lương thiện. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi, càng lương thiện càng dễ chết, vậy làm thế nào để giải thích hiện tượng này? Tôi trả lời: Là một nhà toán học thì anh biết rất rõ rằng không ai mặc cả với tiên đề. Sự lương thiện là tiên đề để hình thành con người, không mặc cả với nó được.
Có thể chết, có thể thua thiệt vì sự lương thiện, nhưng không thể hy sinh sự lương thiện để không thua thiệt và để không chết.
Cảm ơn ông.
http://www.tienphong.vn/thoi-su/552169/cai-dep-cuu-roi-cuoc-song-tpp.html

Ngô Bảo Châu nói chuyện với GS Hà Huy Khoái

NBC: Tỉ lệ nhà toán học trên đầu người có lẽ không ở đâu bằng gia đình chú Khoái. Chú Hà Huy Hân là giáo viên toán, chú Hà Huy Vui là một nhà toán học Việt nam hàng đầu trong chuyên ngành kỳ dị. Thế hệ sau còn có Hà Huy Tài, Hà Minh Lam và Hà Huy Thái. Đây là một điển hình về truyền thống gia đình hay là một sự ngẫu nhiên tai quái ?
HHK: Có thể gia đình chú không có “tỷ lệ trên đấu người làm toán cao nhất Việt Nam” (cũng có một số gia đình tương tự, như gia đình các giáo sư Phan Đình Diệu, Nguyễn Minh Chương,…)Tuy nhiên, chú bỏ qua việc cạnh tranh cái “kỷ lục” này, để trả lời câu hỏi tiếp theo. Đây đúng là một phần của truyền thống gia đình, một phần là kết quả của một sự TẤT NHIÊN tai quái (không phải “ngẫu nhiên”, nhưng vẫn là “tai quái”)! Truyền thống, vì cho đến những đời còn ghi lại được trong gia phả (cũng nhiều thế kỷ rồi), thì hình như các cụ kỵ của chú chỉ biết mỗi nghề…đi học! Có một số cụ đỗ đạt, nhưng có “làm quan” thì cũng chỉ trông coi việc học, như là Huấn đạo, Đốc học. Thành ra đến đời chú cũng chỉ biết tìm nghề học mà thôi. Vấn đề còn lại chỉ là: học cái gì? Ở phổ thông, chú thích học tất cả các môn: Văn, Toán, Sử, Địa,…, có lẽ chỉ trừ môn Thể dục! Thích nhất là Văn, Sử. Thời đó thì Toán có gì để thích đâu: không học thêm, không sách tham khảo, chỉ có sách giáo khoa thôi, mà hình như giáo khoa thời đó cũng dễ hơn bây giờ.Cho nên Toán chỉ được thích vì dễ! Có thể đó cũng là cái may lớn, vì chưa sợ Toán khi học phổ thông, nên sau này vui vẻ đi theo nghiệp Toán! Còn cái sự tất nhiên   tai quái nào dẫn chú đến Toán, mà không phải Văn, thì là vì thời chú học phổ thông cấp 2, 3 (1958-1963) là thời mà sự kiện “nhóm Nhân văn – Giai phẩm” còn ồn ào lắm. Ông cụ thân sinh của chú, là một nhà giáo,  khuyên các con theo nghề Toán, vì chắc chắn tránh được những nhóm tương tự! Còn thế hệ tiếp theo (Tài, Lam, Thái) thì có thể là do “quán tính”!
Tuy vậy, nếu bây giờ cho chọn lại, chắc chú vẫn chọn nghề Toán!
NBC: Chú Khoái đã có thời gian được làm việc trực tiếp với GS. Lê Văn Thiêm. Chú có chia sẻ những ký ức của chú về GS. Lê Văn Thiêm không? GS Thiêm đã có ảnh hưởng như thế nào đến sự nghiệp toán học của chú Khoái?
HHK: Có hai người thầy ảnh hưởng nhiều nhất đến chú, không chỉ trong khoa học mà cả trong cách nhìn nhận cuộc sống là Giáo sư Lê Văn Thiêm và Giáo sư Manin. GS Lê Văn Thiêm, như chú đã từng viết trong một bài giới thiệu về Ông, “thuộc vào số những con người không lặp lại của lịch sử”. Không lặp lại, vì những người hoàn toàn trong sáng như Ông thường chỉ xuất hiện trong buổi đầu của mỗi giai đoạn lịch sử, khi niềm say mê lý tưởng giúp họ quên đi những toan tính cá nhân. Giáo sư Lê Văn Thiêm trong sáng và ngây thơ đến mức tin rằng mọi người cũng trong sáng như Ông (cả khi lịch sử không còn ở giai đoạn đầu!) Khi Ông là Viện trưởng Viện Toán học, đã nhiều lần vì không đủ thời gian chờ, Ông ký tên vào tờ giấy trắng để sau đó nhân viên điền vào những gì họ cần “xin”. Điều đó không để lại hậu quả nào cho Ông khi làm việc ở Viện, nhưng chú nghe nói trước đó, thời còn là Hiệu phó Đại học Tổng hợp, Ông đã bị một số người lợi dụng sự cả tin như vậy và đưa đến khá nhiều điều phiền toái cho Ông. Vậy mà Ông vẫn không hề “rút kinh nghiệm”. Cho đến tận cuối đời, Ông vẫn giữ được nụ cười hồn nhiên như trẻ thơ.
Về khoa học thì chú nghĩ đóng góp tốt nhất của chú là xây dựng “lý thuyết Nevanlinna p-adic”. Chú học được “lý thuyết Nevanlinna” từ GS Lê Văn Thiêm, một trong những người có đóng góp lớn vào lý thuyết đó. Khi đi làm nghiên cứu sinh với Manin, chú học được về “p-adic”. Ghép hai chữ học được ở hai thầy lại thành chữ của mình!
NBC: Chú đã sống với toán học và khoa học Việt Nam qua những thời kỳ rất khác nhau. Thời kỳ trước thống nhất đất nước, thời kỳ từ 75 đến khi bức tường Berlin sụp đổ, thời kỳ từ 1990 đến nay. Liệu chú có thể chia sẻ những suy nghĩ của mình về những sự biến đổi của khoa học Việt Nam trong từng thời kỳ này không ? Chú nghĩ như thế nào về tương lai ?
HHK: Câu hỏi lớn quá, và ngẫu nhiên trùng với một ý định từ lâu của chú là viết một cuốn “Hồi ký toán học”. Nói là “hồi ký” có thể không đúng lắm, nhưng là chú muốn viết về những điều “mắt thấy, tai nghe, đầu nghĩ” của mình về cái giai đoạn đầy biến động đó, mà chú may mắn (có thật là may không?) được chứng kiến. Không hiểu rồi cái “hồi ký” mà chú dự định có thể hoàn thành được không, nhưng nếu cần có câu trả lời (dù nhỏ) cho câu hỏi lớn của cháu, thì chú nghĩ có thể là thế này.
Trong biến động nào cũng có hai phần: tinh thần và vật chất, dĩ nhiên là không độc lập với nhau. Trước 1975, hầu như cả dân tộc Việt Nam sống bằng niềm tin vào ngày thống nhất đất nước. Niềm tin đó giúp người ta vượt qua mọi khó khăn về vật chất. Khoa học Việt Nam, Toán học Việt Nam cũng không nằm ngoài không khí chung đó. Khổ, nhưng thấy học toán, làm toán là một niềm vui lớn. Đặc biệt, những năm đầu tiên bước vào ngành toán chính là những năm để lại nhiều ấn tượng nhất trong cuộc đời làm toán của chú, khi được cùng GS Lê Văn Thiêm và mấy người đàn anh áp dụng phương pháp nổ mìn định hướng vào việc nạo vét Kênh nhà Lê phục vụ giao thông thời chiến. Trong chiến tranh, hình như con người lại “lãng mạn” hơn trong thời bình. Lãng mạn, vì ít tính toán hơn. Cũng có thể không có gì để tính toán. Mà lãng mạn thực sự là điều cần cho những ai đi vào toán học, vì nghề làm toán lại là nghề khó “tính” trước nhất! Có ai dám chắc mình sẽ được kết quả gì trong tương lai.
Thời kỳ đầu sau 1975 là thời mà toán học Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Rất nhiều người được cử đi học tập ở nước ngoài, kể cả ở các nước phương Tây. Nhưng rồi những thuận lợi đó nhanh chóng qua đi, khi vào khoảng 1985 kinh tế Việt Nam bộc lộ những khủng hoảng trầm trọng của cái thời mà ta gọi là “tập trung, quan liêu, bao cấp”. Không thể sống bằng nghề làm toán với đồng lương ít ỏi, một số phải đi dạy học ở châu Phi, số khác tìm những nghề “tay trái” (nhưng thu nhập hơn nhiều lần “tay phải”), một số ít may mắn hơn thì tìm kiếm được những học bổng để đi nước ngoài. Ngành toán Việt Nam vượt qua được giai đoạn gay go đó trước hết nhờ vẫn còn có những người chịu “sinh nghề, tử nghiệp” với toán, và cả những người “may mắn” nhận được học bổng nước ngoài để sống và tiếp tục làm toán.
Sau 1990, Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới. Toán học Việt Nam cũng đứng trước thách thức hoàn toàn mới. Có lẽ lần đầu tiên, những người làm toán ở Việt Nam phải tự đặt câu hỏi: tại sao lại làm toán, mà không làm nghề khác (có thể kiếm nhiều tiền hơn)? Cái thời mà làm việc gì cũng nghèo như nhau, thì ai thích toán cứ làm toán. Bây giờ, thích toán nhưng cần tiền, có làm toán nữa không? Cái chất “lãng mạn” mà toán học rất cần đã không còn, hay là còn rất ít đất sống. Ông Frédéric Pham đã từng đặt câu hỏi “Y-aura-t-il toujours des mathematiciens au Vietnam l’an 2000” (Gazete de mathematiques, vol. 64, pp. 61-63, 1995). Nhưng toán học Việt Nam, năm 2000, vẫn tồn tại qua thời khủng hoảng. Có thể là do kinh tế Việt Nam cũng đã bước qua khủng hoảng. Cũng có thể do   ai đã chọn toán làm nghề nghiệp của mình thì cũng là người không đòi hỏi quá nhiều về vật chất, nên họ dễ tự bằng lòng với cuộc sống không cần quá nhiều tiền của mình! Có ai đó nói :”Không nên lãng mạn hóa cái nghèo”, đúng lắm, nhưng cũng đừng để cái nghèo giết chết lãng mạn. Không còn lãng mạn sẽ không còn âm nhạc, thơ ca, không còn toán học.
Cháu hỏi chú nghĩ gì về tương lai? Để tồn tại, có lẽ toán học Việt Nam đã qua cái thời khó khăn nhất. Còn để phát triển lên một bước mới: chắc vẫn đang ở thời kỳ khó khăn nhất. Xã hội Việt Nam đang trong cái thời kỳ đầu của “kinh tế thị trường”, cái thời mà chuẩn mực của sự “thành đạt” nhiều khi được đo bằng tiền. Mà tiền chính là cái các nhà toán học có ít nhất! Vậy nên, chỉ những người có quan niệm khác về “thành đạt” mới có thể chọn toán làm nghề nghiệp của mình. Về tương lai của toán học Việt Nam, chú trông chờ hai điều: 1/ nền kinh tế Việt Nam sẽ phát triển để đến khi các nhà doanh nghiệp Việt Nam không còn tự hài lòng với việc giàu lên do làm người bán hàng cho nước ngoài, hoặc người bán nguyên liệu của nước mình cho nước ngoài. Đến khi họ không muốn và không thể tiếp tục làm giàu theo cách đó, họ sẽ cần đến khoa học công nghệ. Khi đó, khoa học cơ bản, toán học sẽ có tiếng nói của mình. 2/ các nhà lãnh đạo thấy rõ đầu tư cho khoa học cơ bản – cũng có thể xem là một phần của việc đầu tư cho giáo dục – là việc làm lâu dài, bảo đảm cho sự phát triển bền vững, là việc của Nhà nước. Nói cách khác, những nhà lãnh đạo cũng cần phải “lãng mạn”, để nhìn được tương lai xa hơn những lợi ích trước mắt có thể “cân đo đong đếm” dễ dàng.
NBC: Cháu cũng thấy thật đáng sợ khi người ta lấy đồng tiền làm thước đo cho mọi thứ. Trong cuộc sống, mình vẫn phải tính toán thiệt hơn, nhưng không thể đem cái tính toán thiệt hơn ra  làm nền tảng  xã hội. Dù sao thì cháu vẫn tin đến lúc nào đó thì chúng ta sẽ tỉnh lại, vì cái căn của con người Việt Nam vẫn là sự tử tế.
HHK: Người làm toán bao giờ cũng gặp mâu thuẫn giữa ý muốn làm được cái gì thật hay với việc phải “sản xuất đều đều công trình” (nhất là khi phải xin tài trợ). Theo cháu làm thế nào để sống yên ổn cùng một lúc với hai ý muốn đó?
NBC: Theo cháu, mỗi người làm toán nên giữ riêng cho mình một câu hỏi lớn. Có thể không trả lời được ngay, có thể sẽ không trả lời được trong phạm vi hữu hạn của cuộc sống mình có. Nhưng nó sẽ là một cái đích để mọi việc mình làm trở nên logic chứ không ngẫu nhiên và không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời. Ngược lại, trong mỗi việc cụ thể mình làm thì lại không nên câu nệ xem đây là bài toán to hay nhỏ, mà bản thân mình thấy hay là được. Có điều mình phải luôn tự nhủ phải trung thực với bản thân. Chú có biết cái câu thơ này của ông Bảo Sinh không :
Tự do là sướng nhất đời
Tự lừa còn sướng bằng mười tự do.
HHK. Chú không biết câu thơ này. Nghe cũng có vẻ A.Q. lắm! Nhưng ở đời, “chỉ số A.Q” có lẽ dự đoán mức độ thành công tốt hơn là chỉ số I.Q. Bởi vì “thành công” của mỗi con người chủ yếu phụ thuộc vào quan niệm của chính họ.
HHK: Chú thấy cháu đọc nhiều, không chỉ có toán mà cả văn học, triết học. Tất nhiên điều đó trước hết là để thỏa mãn ý thích ham hiểu biết, nhưng liệu điều đó có giúp ích (hay làm hại – do mất thời gian)  cho nghề toán của cháu không?
NBC: Đúng là cháu thích đọc sách lắm, nhiều khi đọc đủ thứ bà rằn. Ngay cả trong toán, cháu cũng đọc nhiều sách không liên quan gì đến công việc nghiên cứu nhất thời. Theo cháu cuộc sống có nhiều giai đoạn. Có lúc mình phải tập trung toàn tâm toàn ý vào bài toán mình đang làm. Những lúc đó thì hầu như cháu không sờ vào sách, mà chỉ dùng đến tạp chí chuyên môn, tìm những thông tin thiết thực nhất cho cái mình đang làm.
Lúc làm xong một bài toán rồi thì lại phải quay lại xem có cái gì mình chưa biết để đi đến cái câu hỏi lớn kia. Lúc đó mình lại phải quay lại học những cái kiến thức cơ bản nhất. Cháu thấy nhiều khi học lại, học học thêm những cái cơ bản nhất, những vùng đã được nhân loại chinh phục, vẫn có thể đem lại niềm vui không kém so với việc tìm tòi ở ranh giới của cái chưa biết. Cháu nghĩ chỉ có thế mới có thể đổi mới một cách cơ bản công việc nghiên cứu của mình.
Tất nhiên có một cái hại là số lượng bài báo sản xuất được sẽ giảm đáng kể. Nói cho cùng thì cũng không cần sản xuất nhiều lắm chú Khoái nhỉ. Có một số bài báo cháu viết ra mà sau đó cháu thấy tiếc. Đáng ra không nên viết nó ra thì hơn, hoặc ít nhất là không nên in.
Cháu thấy đọc Văn, đọc Triết giúp mình nhiều lắm. Chẳng hạn như nó giúp mình “không bị chi phối bởi những gì ầm ĩ nhất thời”. Nó dạy mình sống trung thực với bản thân mình hơn, hoặc ít nhất có “tự lừa” thì cũng sớm tỉnh ngộ. Nó giúp mình sống thanh thản, không đòi hỏi quá nhiều ở người khác, không đòi hỏi quá nhiều ở cuộc sống.
HHK: Người làm toán nào cũng ít nhiều thích “nổi tiếng”, nhưng khi quá nổi tiếng (chẳng hạn được Fields) thì hình như sự nổi tiếng lại thành gánh nặng. Cháu có lời khuyên thế nào với các bạn trẻ?
NBC: Cháu nghĩ ai cũng cần sự công nhận, sự tôn trọng từ những người khác. Trường hợp ông Perelman là rất ngoại lệ. Còn sự nổi tiếng theo kiểu tài tử xi nê thì thực ra rất là bất tiện. Chỉ có điều trong trường hợp của cháu, mình không có cách nào khác ngoài chấp nhận nó, rồi cố gắng hướng nó vào những việc có ý nghĩa.
NBC: Cháu cảm thấy gần đây có một sự căng thẳng của một số nhà khoa học “trẻ” đối với các nhà khoa học “già”. Chú suy nghĩ gì về hiện tượng này.
HHK: Chú là một “nhà toán học già”, nhưng không cảm thấy rõ lắm sự căng thẳng đó. Nhưng chắc chắn nó tồn tại. Mỗi thế hệ, thậm chí mỗi người, đều có cái thước đo của riêng mình. Người già có cái thước già, người trẻ có cái thước trẻ. Có cái thước nhiều chiều, cũng có những cái thước “cực đoan” chỉ có một-hai chiều thôi. Mà mỗi con người, mỗi sự việc của cuộc sống đều nhiều chiều lắm.  Đem cái thước ít chiều của mình ra đo thiên hạ rồi khen chê, làm sao tránh được “căng thẳng”. Có những người ít thấy căng thẳng hơn, là vì họ nhớ câu của Khổng Tử :”Kẻ nào khen ta là bạn ta, kẻ nào chê ta là thầy ta, kẻ nào nịnh ta thì đúng là thù của ta vậy”. Nhưng thời nay hình như số người thích làm “thầy” người khác hơi nhiều, mà số ngược lại thì ít. Có thể con người ngày nay “tự tin” hơn chăng? Tuy vậy, trong cộng đồng  toán học Việt Nam, chú nghĩ quan hệ giữa hai thế hệ “trẻ-già”chưa có gì phải lo ngại.
NBC: Hiện tượng cháu nhắc đến ít ảnh hưởng đến cộng đồng toán học, có lẽ giá trị trong toán học dễ cảm nhận hơn ở cách ngành khác. Người ta dễ nhận thức chính xác hơn về giá trị của mình và giá trị của người khác. Ở các chỗ khác, một số bạn trẻ lẫn lộn giữa phong cách khoa học và giá trị khoa học, cho nên khi so sánh các nhà khoa học “già” xa lạ với phong cách làm việc Âu-Mỹ, thì mặc nhiên đánh giá họ thấp đi và tự đánh giá mình cao quá. Một mặt khác, sự chênh lệch về mức sống trở nên quá lớn và điều kiện sống của nhà khoa học trẻ ở Việt Nam là thực sự khó khăn. Những mâu thuẫn kiểu này có lẽ lúc nào cũng có, và theo cụ Marx thì nó là động cơ cho sự vận động của xã hội. Chỉ có điều mình phải để ý để nó vận động theo chiều hướng tích cực.
HHK: Khi tiếp xúc với những nhà toán học nước ngoài, chú có cảm giác nói chung họ biết nhiều hơn (về những thứ “không toán”, hay có thể gọi chung là “văn hóa”) so với những người làm toán ở nước ta. Cháu có thấy thế không? Có thể giải thích thế nào về hiện tượng này, và nó ảnh hưởng thế nào đến chính việc làm toán của “họ” và “ta”?
NBC: Cháu lại thấy các nhà khoa học phương tây hay thắc mắc làm sao mà người phương đông, không chỉ riêng các nhà khoa học, ai cũng là triết gia. Có thể là cái phông văn hóa phương đông và phương tây rất khác nhau, nên ai cũng thấy người kia biết những thứ mà mình mù tịt. Nhưng đúng là cái phông văn hóa có chi phối hoạt động khoa học. Ở phương đông cháu thấy người ta thích cái kiểu tầm chương trích cú quá.
Có một cái các nhà khoa học phương tây, tính cả Ấn độ, hiểu biết hơn hẳn đó là âm nhạc, nói rộng ra là khả năng cảm thụ thẩm mỹ. Theo cháu cái khả năng này là một phẩm chất không thể thiếu của người làm toán.
NBC. Là một người gắn bó với khoa học Việt Nam gần như từ lúc khai sinh, chú Khoái có thể nói một vài lời cho những bạn trẻ đang chuẩn bị dấn thân vào con đường khoa học không ?
HHK. Chú không thích lắm cái chữ “dấn thân”. Nó làm cho người đi vào khoa học có vẻ như ra chiến trường, có vẻ như sẵn sàng hy sinh vì người khác. Thực ra đi vào khoa học cũng không phải “hy sinh” cái gì hết. Ta làm khoa học vì ta thích hiểu biết, thích sáng tạo. Làm khoa học thì được đọc nhiều, tức là được thụ hưởng hơn người khác cái kho tàng tri thức vô giá của nhân loại. Mà đã thụ hưởng thì có nghĩa vụ đền đáp, tức là phải cố gắng góp được cái gì đó, dù nhỏ. Cuộc sống bao giờ cũng sòng phẳng. Nếu mình đã được làm cái mình thích thì cũng không nên đòi hỏi cuộc đời cho lại đầy đủ mọi thứ như người khác. Thích hiểu biết (thực chất cũng là một thứ hưởng thụ) mà lại vẫn mong có rất nhiều tiền; thích tự do làm cái mình muốn mà vẫn mong có nhiều quyền; thích được yên tĩnh để đắm mình vào suy tư riêng mà vẫn mong cái sự nổi tiếng – đó là những mâu thuãn mà nếu không nhận thức ra thì cứ tưởng mình đang phải hy sinh, đang “dấn thân”! Làm khoa học cũng là một nghề, như mọi nghề khác. Nếu thích giàu thì nên đi buôn, thích quyền thì nên đi làm chính trị, thích hiểu biết, thích tự do thì nên đi vào khoa học. Nghề nào cũng có cái “được” và “mất”. Quan trọng nhất là hiểu cho được mình thực sự cần cái gì. Điều này không dễ, nhất là khi người ta còn trẻ.
Bởi vậy, nếu định chọn con đường khoa học thì nên tự hỏi: có phải cái mà mình mong muốn nhất là tri thức và tự do không?
HHK. Trong cuộc đời, ai cũng có thể mắc sai lầm. Theo cháu, bao giờ thì một người cần nhận ra rằng mình đã sai lầm khi chọn nghề Toán, và nên đổi sang nghề khác?
NBC. Cháu thấy có nhiều lý do khiến người ta có thể từ bỏ nghề Toán và chọn một nghề khác. Trong trương hợp  không nhìn thấy triển vọng nào để nghề Toán tạo cho gia đình mình một cuộc sống tạm gọi là tươm tất,  thì Toán không còn là nghề nữa mà là một dạng nghệ thuật để theo đuổi. Để theo đuổi  một nghệ thuật thì cần một tình yêu mãnh liệt lắm. Đấy là nghĩa của từ dấn thân mà cháu sử dụng. Nhưng đo độ mãnh liệt của tình yêu thì không dễ.
Để làm toán, người ta chỉ sử dụng một số khá hạn chế khả năng của con người, nhưng lại sử dụng chúng một cách tối đa. Khi nhận ra rằng mình thiếu một số khả năng để làm nàng Toán hoan hỉ, mà laị thừa những khả năng mà nàng ta lờ đi, thì có khi cũng nên tìm một nghề khác với nghề nghiên cứu Toán. Yêu đơn phương lâu dài thì mệt lắm.

http://ngobaochau.wordpress.com/2011/09/26/noi-chuy%E1%BB%87n-v%E1%BB%9Bi-gs-ha-huy-khoai/#more-39